LUẬT THI ĐẤU SÂN BÓNG ĐÁ CỎ NHÂN TẠO 11 NGƯỜI (P.1)

Luật thi đấu sân bóng đá mini cỏ nhân tạo 11 người gồm 17 điều luật theo quy định của FIFA trong việc chơi bóng, áp dụng các điều luật này trên cả nước. Thông thường, luật chỉ là một khung cho phép thay đổi linh hoạt tùy vào đặc điểm trận đấu. Ngoài 17 điều luật, nhiều quyết định của IFAB và các chỉ dẫn cũng được đóng góp vào luật bóng đá.

LUẬT I

SÂN THI ĐẤU

Các trận đấu có thể được tổ chức trên mặt sân cỏ tự nhiên hoặc mặt sân cỏ nhân tạo, theo Luật thi đấu 11 người quy định của điều lệ giải.

Mặt sân cỏ nhân tạo phải đáp ứng được các quy định về chất lượng của FIFA hoặc tiêu chuẩn quốc tế, trường hợp đặc biệt cũng phải được FIFA cho phép.

1. Kích thước:

Sân thi đấu hình chữ nhật có chiều dài sân lớn hơn chiều ngang.

                   Tối thiểu:          Tối đa:

Chiều dài:      90m                120m

Chiều rộng:    45m                 90m

Sân thi đấu quốc tế:

                    Tối thiểu:          Tối đa:

Chiều dài:      100m                110m

Chiều rộng:    64m                 75m

Sân bóng cỏ nhân tạo

2. Các đường giới hạn:

– Hai đường giới hạn dài hơn theo chiều dọc sân gọi là đường biên dọc.

– Hai đường giới hạn ngắn hơn theo chiều ngang sân gọi là đường biên ngang.

– Các đường giới hạn đều không rộng hơn 12cm.

– Đường thẳng kẻ suốt theo chiều ngang và chia sân thành 2 phần bằng nhau, gọi là đường giữa sân.

– Ở giữa đường giữa sân có một điểm rõ ràng là tâm của sân. Lấy điểm đó làm tâm kẻ đường tròn bán kính 9m15, đó là đường tròn giữa sân.

3. Khu cầu môn:

Từ điểm cách cột dọc 5m50 trên đường biên ngang của mỗi phần sân, kẻ vào phía trong 2 đoạn thẳng song song, vuông góc với biên ngang và có độ dài 5m50, kẻ đường nối liền hai đầu đoạn thẳng đó. Phần diện tích được giới hạn bởi những đoạn thẳng và đường biên ngang gọi là khu cầu môn.

4. Khu phạt đền:

Từ điểm cách cột dọc 16m50 trên đường biên ngang của mỗi phần sân, kẻ vào phía trong 2 đoạn thẳng song song vuông góc với biên ngang và có độ dài 16m50, kẻ đường nối liền 2 đoạn thẳng đó. Phần diện tích được giới hạn bởi những đoạn thẳng đó và đường biên ngang gọi là khu phạt đền.

Trong mỗi khu phạt đền có một điểm với đường kính 22cm được đánh dấu rõ ràng, cách điểm giữa đường biên ngang 11m – Đó là điểm phạt đền. Từ điểm phạt đền làm tâm kẻ một cung tròn ở ngoài khu phạt đền có bán kính 9m15, để xác định vị trí đứng của những cầu thủ khi thực hiện quả phạt 11m.

5. Cột cờ góc:

Ở mỗi góc sân được cắm cột cờ góc không nhọn đầu và cao tối thiểu 1m50.

Phía ngoài đường giữa sân cách 2 đường biên dọc tối thiểu 1m có thể đặt 2 cột cờ.

6. Cung phạt góc:

Lấy tâm là điểm cắm các cột cờ góc, kẻ vào trong sân 1/4 cung tròn bán kính 1m. Đây là vị trí đặt bóng để đá quả phạt góc.

7. Cầu môn:

Ở chính giữa mỗi đường biên ngang được đặt một khung cầu môn. Cầu môn được cấu tạo bởi 2 cột dọc vuông góc với đường biên ngang và cách đều 2 cột cờ góc, có khoảng cách 7m32, (tính từ mép trong của cột) được nối liền với nhau bằng một xà ngang song song và cách mặt sân 2m44 (tính từ mép dưới xà ngang).

Cột dọc và xà ngang phải có cùng kích thước và không rộng quá 12cm. Lưới phải được mắc vào cột dọc, xà ngang và gắn xuống mặt sân phía sau cầu môn một cách chắc chắn. Lưới phải có thiết bị căng một cách thích hợp để không gây cản trở hoạt động của thủ môn cũng như không để bóng có thể bật trở lại sân, khi bóng đã hoàn toàn vượt qua đường cầu môn.

Chất liệu lưới cầu môn phải bằng sợi vải, sợi đay hoặc sợi ny lon. Các cột dọc, xà ngang của cầu môn phải được sơn màu trắng.

8. Sự an toàn:

Cầu môn phải được gắn một cách chắc chắn xuống mặt sân. Những cầu môn lắp ráp cũng có thể được sử dụng nếu đảm bảo đủ những yêu cầu của Luật.

NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG

LUẬT QUỐC TẾ

Quyết định 1.

Trong thi đấu khi xà ngang bị lệch hoặc gãy thì trận đấu phải ngừng lại. Nếu không thể thay thế hoặc sửa chữa một cách an toàn được thì trận đấu phải huỷ bỏ. Cấm việc dùng sợi dây để thay thế xà ngang. Trường hợp có thể sửa chữa, thay thế được thì trận đấu sẽ được tiếp tục trở lại bằng quả “thả bóng chạm đất” tại nơi có bóng khi ngưng cuộc.

Quyết định 2.

Cột dọc, xà ngang phải được làm bằng gỗ, kim loại hay chất liệu khác được hội đồng luật cho phép. Tiết diện của nó có thể là hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn hay hình bầu dục và không gây nguy hiểm cho cầu thủ.

Quyết định 3.

Không có bất cứ hình thức quảng cáo thương mại nào trong sân và trên các trang thiết bị thi đấu (gồm: lưới, cột dọc, xà ngang…) từ thời điểm đổi bóng vào sân và rời sân sau khi kết thúc hiệp I và quay trở lại sân cho đến khi kết thúc trận đấu. Đặc biệt không được dùng bất kỳ chất liệu quảng cáo nào trưng bày trên cầu môn, lưới, cờ và cột cờ góc. Các trang thiết bị thi đấu không được gắn các phương tiện thông tin (camera, microphon…).

Quyết định 4.

Không được có bất kỳ một hình thức quảng cáo nào ở mặt đất trong khu vực kỹ thuật hoặc trong khu vực được giới hạn bởi đường biên dọc với đường song song và cách biên dọc 1m của khu vực kỹ thuật. Ngoài ra không được có quảng cáo ở khu vực giữa đường cầu môn với lưới cầu môn.

Quyết định 5.

Các biểu tượng của FIFA; Liên đoàn bóng đá khu vực, quốc gia hoặc Câu lạc bộ đều không được phép xuất hiện trên sân thi đấu trong suốt thời gian diễn ra trận đấu như quyết định 3.

Quyết định 6.

Phải kẻ một đoạn thẳng ở ngoài sân thi đấu, vuông góc với biên ngang cách cột cờ góc 10m. Đoạn thẳng này giúp trọng tài xác định vị trí đứng hợp lệ của cầu thủ đối phương khi thực hiện quả phạt góc.

cỏ nhân tạo

LUẬT II

BÓNG

1. Chất lượng và kích thước:

Luật thi đấu sân 11 người quy đinh chất lượng và kích thước bóng như sau: 

– Bóng hình cầu.

– Vỏ ngoài bằng da hoặc chất liệu khác được công nhận.

– Chu vi không được lớn hơn 70cm và không được nhỏ hơn 68cm.

– Trọng lượng lúc bắt đầu trận đấu không được nặng hơn 450gr và không được nhẹ hơn 410gr.

– Áp suất từ 0,6 đến 1,1 átmốtphe.

2. Quy định việc thay thế khi bóng hỏng:

a. Nếu bóng bị nổ hoặc hỏng trong lúc trận đấu đang tiến hành:

– Ngừng trận đấu.

– Tiếp tục trận đấu bằng quả thả bóng chạm đất tại nơi phát hiện bóng hỏng.

b. Nếu bóng bị nổ hoặc hỏng trong thời gian trận đấu tạm ngừng, sẽ bắt đầu lại trận đấu thích hợp với nguyên nhân ngừng trận đấu.

c. Trong suốt quá trình trận đấu, chỉ có trọng tài mới có quyền quyết định bóng thi đấu.

NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG

LUẬT QUỐC TẾ

Quyết định 1

Trong những trận đấu chính thức, chỉ những quả bóng đáp ứng đúng những tiêu chuẩn của Luật thi đấu sân bóng đá 11 người điều Luật 2, mới được phép sử dụng để thi đấu.

Những trận đấu do FIFA hoặc Liên đoàn bóng đá châu lục tổ chức, chỉ những quả bóng có 1 trong 3 dòng chữ chính thức sau đây mới được sử dụng để thi đấu:

  • Được FIFA phê duyệt
  • Được FIFA kiểm tra.
  • Đạt tiêu chuẩn bóng thi đấu quốc tế.
  • Dòng chữ ghi trên bóng chứng tỏ bóng đã được kiểm tra chất lượng và đạt những tiêu chuẩn tối thiểu của
  • Luật 2. Danh sách những yêu cầu bổ sung đặc biệt cho từng chủng loại phải được Hội đồng Luật quốc tế phê chuẩn. Bộ phận kiểm tra phải được FIFA phê duyệt.
  • Trong các giải thi đấu quốc gia có thể sử dụng bóng đạt một trong 3 tiêu chuẩn nêu trên.
  • Ngoài ra trong các trận đấu không chính thức khác, bóng được sử dụng phải đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu của Luật 2.
Quyết định 2.

Trong những trận đấu do FIFA tổ chức hoặc những trận đấu do Liên đoàn bóng đá quốc gia tổ chức, bóng thi đấu không được phép có bất cứ hình thức quảng cáo thương mại nào.

Chỉ được có những biểu tượng của giải, của Ban tổ chức giải và nhãn hiệu được công nhận của nhà sản xuất bóng. Tuy nhiên điều lệ giải phải có quy định hạn chế về kích thước và số lượng các biểu tượng đó.

LUẬT III

SỐ LƯỢNG CẦU THỦ

1. Cầu thủ:

Trong một trận đấu phải có 2 đội. Mỗi đội có tối đa 11 người trong đó có 1 thủ môn. Trận đấu không được thực hiện nếu một trong 2 đội không còn đủ 7 cầu thủ.

2. Trong những giải chính thức:

Những trận đấu do FIFA, Liên đoàn bóng đá khu vực và các Liên đoàn bóng đá quốc gia tổ chức, chỉ được phép thay thế tối đa 3 cầu thủ. Điều lệ giải phải có quy định số lượng cầu thủ dự bị được phép đăng ký mỗi trận đấu trong khoảng cho phép từ 3 đến tối đa 7 cầu thủ.

3. Trong những giải không chính thức:

– Ở các trận thi đấu của đội A quốc gia, được sử dụng tối đa 6 cầu thủ dự bị.

– Ở những trận đấu không chính thức, số lượng cầu thủ dự bị có thể nhièu hơn nếu:

+ Các đội bóng có liên quan thống nhất cầu thủ dự bị tối đa.

+Thông báo số lượng cầu thủ dự bị cho trọng tài trước trận đấu.

Nếu trọng tài không được thông báo hoặc các đội bóng không có được sự thống nhất được số lượng cầu thủ dự bị tối đa trước trận đấu thì chỉ được phép thay thế không quá 6 cầu thủ dự bị.

4. Trong tất cả các trận đấu

Danh sách cầu thủ dự bị phải được thông báo với trọng tài thứ 4 trước khi trận đấu bắt đầu. Cầu thủ dự bị không đăng ký không được phép tham gia trận đấu.

5. Quy định về việc thay thế cầu thủ:

– Việc thay thế cầu thủ phải được thông báo trước với trọng tài.

– Cầu thủ dự bị chỉ được vào sân khi cầu thủ được thay thế đã ra khỏi sân, đồng thời phải có sự cho phép của trọng tài chính.

– Cầu thủ dự bị chỉ được vào sân từ ngoài đường biên dọc tại điểm gặp đường giới hạn giữa sân, khi bóng ngoài cuộc.

– Việc thay thế kết thúc khi cầu thủ dự bị đã vào trong sân thi đấu.

– Lúc này cầu thủ dự bị trở thành chính thức và cầu thủ được thay ra không được tham gia trận đấu nữa.

– Cầu thủ đã thay ra không còn được phép tham gia trận đấu.

– Trong các trường hợp thay thế cầu thủ, việc cầu thủ có được thi đấu hay không thuộc quyền hạn của trọng tài.

6. Quy định về thay thế thủ môn:

Bất kỳ cầu thủ nào cũng được phép thay thế thủ môn với điều kiện:

– Phải thông báo trước với trọng tài.

– Chỉ được thực hiện khi bóng ngoài cuộc.

Cách xử phạt:

1. Cầu thủ dự bị vào sân không có phép của trọng tài:

– Dừng trận đấu.

– Cầu thủ đó bị cảnh cáo và bị mời ra khỏi sân.

– Trận đấu được bắt đầu lại bằng quả đá phạt gián tiếp tại nơi có bóng khi trận đấu tạm dừng.

2. Nếu cầu thủ thay thế vị trí với thủ môn lúc trận đấu đang tiếp diễn mà không đưép của trọng tài:

– Vẫn để trận đấu tiếp tục

– Trong lần ngưng cuộc (tự nhiên) đầu tiên. Hai cầu thủ vi phạm sẽ bị cảnh cáo.

3. Những vi phạm khác của luật.

Những cầu thủ có những hành vi khác về điều luật này đều sẽ bị cảnh cáo và nhận thẻ vàng.

Trong trường hợp đó trận đấu sẽ được tiếp tục bằng quả phạt gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại nơi có bóng khi trận đấu tạm dừng.

4. Cầu thủ đã đăng ký chính thức bị truất quyền thi đấu trước khi trận đấu bắt đầu sẽ được quyền thay thế bằng một cầu thủ dự bị có đăng ký với trọng tài trước trận đấu.

Nhưng nếu một cầu thủ dự bị bị trọng tài truất quyền thi đấu trước và sau khi bắt đầu trận đấu sẽ không được bổ sung một cầu thủ dự bị khác.

QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG

LUẬT QUỐC TẾ

Quyết định 1.

Ngoài những quy định của Luật thi đấu sân cỏ nhân tạo 11 người Luật 3, Liên đoàn bóng đá quốc gia có thể quy định số lượng tối thiểu cầu thủ cho một đội bóng trong trận đấu.

Hội đồng Luật quốc tế cho rằng trận đấu không thể tiếp tục được nếu một trong hai đội bóng không còn đủ 7 cầu thủ.

Quyết định 2.

Hoạt động của quan chức trong khu vực kỹ thuật:

Trong từng thời điểm của trận đấu, một quan chức của đội bóng có thể rời ghế ngồi ra chỉ đạo chiến thuật cho cầu thủ trong phạm vi khu vực kỹ thuật và phải trở về ghế ngồi ngay sau đó. Các quan chức đội bóng phải ở trong khu vực kỹ thuật và luôn có thái độ đúng mực.

sân cỏ nhân tạo

LUẬT IV

TRANG PHỤC CỦA CẦU THỦ

1. Sự an toàn

Cầu thủ không được sử dụng hoặc mang theo những đồ vật có thể gây nguy hiểm cho mình hoặc cho các cầu thủ khác (gồm các loại trang sức…).

2. Trang phục cơ bản

Cầu thủ trong thi đấu phải mang những trang phục:

– Áo thi đấu.

– Quần đùi – Nếu mặc quần giữ ấm phía trong quần đùi thì phải có mầu cùng với màu quần đùi thi đấu.

– Không được sử dụng trang phục thi đấu áo liền quần.

– Tất dài.

– Bọc ống chân.

– Giầy.

– Cầu thủ không được phép để hở áo mặc lót bên trong in khẩu hiệu, quảng cáo, Cầu thủ vi phạm sẽ bị Ban tổ chức giải phạt.

3. Bọc ống chân:

– Bọc ống chân phải được bít tất dài phủ kín.

– Bằng nguyên liệu thích hợp như: cao su, plastic hoặc chất liệu tương tự.

– Có khả năng bảo vệ tốt.

4. Thủ môn:

Thủ môn phải mặc trang phục thi đấu có màu dễ phân biệt với những cầu thủ khác và trọng tài.

5. Việc cho phép cầu thủ đeo kính thi đấu:

Hội đồng Luật quốc tế cho phép cầu thủ (đặc biệt là cầu thủ trẻ) đeo những loại kính mắt thể thao với kỹ thuật hiện đại, không gây nguy hiểm cho mình và các cầu thủ khác. Các trọng tài cần xem xét đặc tính an toàn của kính để quyết định cho phép hoặc không cho phép cầu thủ đeo kính trong thi đấu.

Cách xử phạt:

Đối với những vi phạm Luật thi đấu sân mini cỏ nhân tạo 11 người điều Luật 4:

– Không cần thiết phải dừng trận đấu.

– Bất cứ cầu thủ nào vi phạm điều luật này sẽ được trọng tài mời ra khỏi sân để chỉnh trang trang phục.

– Khi bóng ngoài cuộc, cầu thủ phải rời sân để chỉnh đốn trang phục trừ trường hợp đã chỉnh trang được trang phục ngay trước đó.

– Nếu đã rời sân để chỉnh đốn trang phục, khi muốn trở lại sân, cầu thủ đó phải được trọng tài cho phép khi bóng ngoài cuộc.

– Trước khi được phép tiếp tục thi đấu, cầu thủ này phải được trọng tài kiểm tra.

– Một cầu thủ bị trọng tài mời ra khỏi sân để chỉnh đốn trang phục, nếu khi trở lại sân không có phép của trọng tài, trọng tài ngưng trận đấu, cảnh cáo cầu thủ đó và trận đấu được tiếp tục bằng quả phạt gián tiếp cho đội đối phương được ảnh hưởng tại nơi có bóng khi trận đấu tạm dừng.

LUẬT V

TRỌNG TÀI

Trọng tài là người kiểm soát và điều hành mọi diễn biến của trận đấu.

1. Quyền hạn và nhiệm vụ:

– Đảm bảo việc áp dụng đúng luật.

– Phối hợp với trợ lý trọng tài và trọng tài thứ tự trong việc kiểm soát và điều hành trận đấu.

– Đảm bảo bóng thi đấu phải đúng yêu cầu của Luật 2.

– Đảm bảo trang phục của các đấu thủ phải đúng các quy định của Luật 4.

– Theo dõi thời gian của các đấu thủ phải đúng các quy định.

– Tạm dừng, tạm hoãn hoặc huỷ bỏ trận đấu nếu xét thấy có sự vi phạm luật.

– Tạm dừng, tạm hoãn hoặc huỷ bỏ trận đấu nếu có sự cản trở ở ngoài sân thi đấu.

– Tạm dừng trận đấu nếu nhận thấy có cầu thủ bị chấn thương nặng phải đưa ngay ra ngoài sân thi đấu để chữa trị.

– Để trận đấu tiếp tục đến khi bóng ngoài cuộc nếu nhận thấy cầu thủ bị chấn thương nhẹ.

– Những cầu thủ chấn thương chảy máu phải được rời sân để điều trị. Trọng tài chỉ cho phép cầu thủ đó trở lại thi đấu khi vết thương đã cầm máu.

– Để trận đấu tiếp tục mỗi khi có hành vi phạm lỗi nếu trọng tài nhận thấy việc thổi phạt sẽ có lợi cho đội phạm lỗi (để lợi thế). Tuy nhiên trong khoảng thời gian ngắn (2 đến 3 giây) tình huống lợi thế không được áp dụng thì trọng tài sẽ thổi phạt ngay tình huống phạm lỗi trước đó.

– Nếu cầu thủ cùng một thời điểm vi phạm 2 lỗi sẽ bị phạt theo lỗi nặng hơn.

– Trọng tài không nhất thiết phải dừng ngay trận đấu để cảnh cáo (hoặc truất quyền thi đấu) cầu thủ có hành vi phạm lỗi. Nếu áp dụng phép lợi thế để trận đấu tiếp tục thì trọng tài sẽ cảnh cáo (hoặc truất quyền thi đấu) cầu thủ phạm lỗi ngay sau khi bóng ngoài cuộc.

– Quan chức nào của đội bóng có những hành vi không đúng đắn (theo quy định) sẽ bị trọng tài trục xuất ngay lập tức khỏi khu vực sân thi đấu.

– Trọng tài phải coi trọng những nhận định của trợ lý trọng tài đối với những tình huống vi phạm xảy ra ngoài tầm quan sát của mình.

– Trọng tài không cho phép bất kỳ ai được vào sân khi trận đấu chưa dừng và chưa có ký hiệu đồng ý.

– Cho phép bắt đầu lại trận đấu sau mỗi lần tạm dừng.

– Có trách nhiệm báo cáo đầy đủ mọi chi tiết về những tình huống vi phạm kỷ luật của bất kỳ cầu thủ nào và quan chức đội bóng, xảy ra trước, trong và sau trận đấu.

2. Những quyết định của trọng tài:

Những quyết định của trọng tài trong trận đấu là quyết định cuối cùng.

Trọng tài có thể thay đổi quyết định của mình nếu nhận thấy quyết định đó thiếu chính xác hoặc xử lý theo nhận định của trợ lý khi trận đấu chưa bắt đầu lại hoặc chưa chấm dứt.

NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG

LUẬT QUỐC TẾ

Quyết định 1.

Trọng tài, các trợ lý trọng tài, trọng tài thứ 4 không có trách nhiệm đối với:

+ Bất kỳ thương tổn nào của cầu thủ, quan chức, khán giả.

+ Bất kỳ tổn thất nào về tài sản.

+ Bất kỳ một thương tổn nào khác đối với một cá nhân, Câu lạc bộ, Công ty, Hiệp hội…hoặc đơn vị tương đương, do trọng tài ra bất kỳ một quyết định nào theo Luật bóng đá hoặc thi hành những quy định của điều lệ thi đấu như:

a. Tạm dừng hay tiếp tục trận đấu khi có sự cố về thời tiết trên sân hay xung quanh sân.

b. Quyết định huỷ bỏ trận đấu vì bất cứ lý do nào.

c. Quyết định liên quan đến điều kiện kỹ thuật các trang thiết bị thi đấu như: khung cầu môn, cột cờ góc, bóng…không đáp ứng đúng mọi yêu cầu của Luật.

d. Quyết định dừng hay tiếp tục trận đấu do sự cố khán giả gây rối hay bất cứ sự việc gì xảy ra trên khu vực khán giả.

e. Quyết định tạm dừng hay tiếp tục trận đấu để cho phép bác sỹ săn sóc cầu thủ bị chấn thương.

f. Quyết định buộc cầu thủ bị chấn thương phải đưa ra ngoài để săn sóc cũng như phải cho phép những cầu thủ đã săn sóc chấn thương ở ngoài sân được nhanh chóng trở lại thi đấu. Để làm tốt nhiệm vụ này, trọng tài nên giao cho trọng tài thứ 4 hỗ trợ việc quản lý cầu thủ chấn thương ra, vào sân.

g. Quyết định cho hoặc không cho phép một cầu thủ mang thêm một loại trang phục khác ngoài quy định của Luật.

h. Quyết định (đây cũng là trách nhiệm của trọng tài) cho hoặc không cho phép bất cứ ai (người của đội bóng, nhân viên sân bãi, nhân viên an ninh, nhiếp ảnh hoặc phóng viên đại diện báo chí…) có mặt ở khu vực gần sân thi đấu.

i. Những quyết định nào khác của trọng tài phải phù hợp với Luật bóng đá, phù hợp với nhiệm vụ trọng tài cho FIFA, Liên đoàn khu vực, Liên đoàn quốc gia, các quy định của Hội đồng Luật quốc tế.

Quyết định 2.

Trong các giải hoặc các trận đấu nào quy định có trọng tài thứ tư, thì trách nhiệm của trọng tài thứ tư phải tuân theo sự hướng dẫn và những bổ sung luật của Hội đồng Luật quốc tế.

Quyết định 3.

Những sự việc công nhận hay không công nhận bàn thắng kể cả kết quả của trận đấu đều thuộc quyền quyết định của trọng tài.

LUẬT VI

TRỢ LÝ TRỌNG TÀI

Nhiệm vụ:

Mỗi trận đấu phải có 2 trợ lý, tuỳ thuộc vào quyết định của trọng tài, trợ lý có nhiệm vụ phải xác định rõ:

a. Khi bóng đã vượt quá các vạch giới hạn của sân thi đấu.

b. Đội được đá phạt góc, phát bóng hoặc ném biên.

c. Thời điểm có cầu thủ phạm luật việt vị.

d. Theo dõi việc thay thế cầu thủ dự bị.

e. Khi có lỗi khiếm nhã hoặc có hành vi phạm luật xảy ra ngoài tầm quan sát của trọng tài.

g. Khi có tình huống phạm lỗi xảy ra ở gần vị trí của trợ lý trọng tài hơn trọng tài (kể cả những tình huống phạm lỗi trong khu phạt đền).

h. Khi đá phạt đền:

– Thủ môn có di chuyển khỏi đường cầu môn trước khi bóng được đá đi không.

– Khi bóng đã qua vạch cầu môn.

i. Trợ lý trọng tài có trách nhiệm giúp trọng tài điều hành trận đấu theo luật và đặc biệt trong các tình huống đá phạt ở gần vị trí của mình, trợ lý trọng tài có thể vào sân để giúp kiểm soát khoảng cách 9m15.

k. Trợ lý trọng tài có những quyết định không chính xác, thể hiện năng lực yếu kém có thể bị trọng tài thay thế và sự việc này trọng tài có trách nhiệm báo cáo về Ban tổ chức giải.

LUẬT VII

THỜI GIAN TRẬN ĐẤU

1. Thời gian trận đấu:

Mỗi trận đấu có 2 hiệp và mỗi hiệp là 45 phút, trừ trường hợp có sự thoả thuận giữa trọng tài cùng 2 đội bóng tham dự trận đấu.

Bất kỳ đề nghị nào thay đổi thời gian của trận đấu (thí dụ vì điều kiện ánh sáng, thời tiết chỉ thi đấu mỗi hiệp 40 phút) phải có sự thoả thuận trước khi bắt đầu và tuân theo những quy định của điều lệ thi đấu.

2. Thời gian nghỉ giữa 2 hiệp:

– Cầu thủ được quyền có thời gian nghỉ giữa 2 hiệp.

– Thời gian nghỉ không quá 15 phút.

– Điều kiện giải phải quy định rõ thời gian nghỉ giữa 2 hiệp.

– Thời gian nghỉ chỉ có thể thay đổi nếu có sự đồng ý của trọng tài.

3. Bù thời gian:

Những tình huống sau đây được tính để bù thêm thời gian cho mỗi hiệp đấu:

– Những sự thay thế cầu thủ dự bị.

– Quá trình chăm sóc cầu thủ bị chấn thương.

– Di chuyển cầu thủ bị chấn thương ra ngoài sân để chăm sóc.

– Thời gian “chết”.

– Bất kể nguyên nhân nào khác.

Trọng tài là người quyết định số thời gian được bù thêm cho mỗi hiệp đấu.

4. Đá phạt đền:

Ngay trước khi kết thúc mỗi hiệp đấu, có đội bóng được hưởng quả phạt đền thì hiệp đấu đó phải được kéo dài thêm để đá xong quả phạt đó.

5. Hiệp phụ:

Điều lệ thi đấu phải quy định thời gian thi đấu của mỗi hiệp phụ. Việc đá thêm hiệp phụ được quy định rõ ở Luật thi đấu sân bóng mini 11 người điều Luật 8.

6. Trận đấu bị đình chỉ:

Trận đấu bị đình chỉ được tổ chức lại nếu được quy định trong điều lệ giải.

LUẬT VIII

BẮT ĐẦU VÀ BẮT ĐẦU LẠI TRẬN ĐẤU

1. Mở đầu trận đấu:

Trọng tài sẽ tung đồng tiền để xác định đội thắng có quyền chọn cầu môn nào mà đội mình sẽ tấn công trong hiệp một của trận đấu. Đội bạn sẽ được quyền đá quả giao bóng bắt đầu trận đấu.

Đội được quyền chọn sân sẽ được đá quả giao bóng để bắt đầu hiệp 2.

Bắt đầu hiệp 2 của trận đấu 2 đội đổi sân và như vậy hướng tấn công của từng đội sẽ ngược lại với hiệp một.

2. Quả giao bóng:

Thực hiện quả giao bóng là một hình thức bắt đầu hoặc bắt đầu lại trận đấu:

– Bắt đầu trận đấu.

– Sau mỗi bàn thắng hợp lệ.

– Bắt đầu hiệp 2 của trận đấu.

– Bắt đầu mỗi hiệp phụ của trận đấu phụ.

Quả giao bóng trực tiếp vào cầu môn được công nhận bàn thắng.

3. Quá trình tiến hành quả giao bóng:

– Tất cả cầu thủ của đội bóng phải đứng trên phần sân của đội mình.

– Đội không được quyền giao bóng phải đứng cách xa bóng ít nhất là 9m15 cho đến khi bóng được đá vào cuộc.

– Bóng phải được đặt tại điểm giao bóng trong vòng trung tâm.

– Trọng tài thổi còi ra lệnh bắt đầu.

– Bóng trong cuộc ngay sau khi được đá và di chuyển về phía trước.

– Cầu thủ đá quả giao bóng không được tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa được chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác.

– Sau mỗi bàn thắng, đội thua được đá quả giao bóng để bắt đầu lại trận đấu.

4. Phạt những lỗi vi phạm:

a. Cầu thủ giao bóng chạm bóng liên tiếp 2 lần trước khi bóng được đá hoặc chạm bởi một cầu thủ khác:

* Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.

b. Đối với bất kỳ lỗi nào khác xảy ra trong quá trình tiến hành quả giao bóng.

* Quả giao bóng đều được thực hiện lại.

5. Quả “thả bóng chạm đất”:

Sau mỗi lần tạm dừng trận đấu vì bất kỳ lý do nào không được đề cập trong luật bóng đá thì trận đấu sẽ được tiếp tục trở lại bằng quả “thả bóng chạm đất”.

6. Quá trình tiến hành quả “thả bóng chạm đất”:

– Quả “thả bóng chạm đất” sẽ được trọng tài thực hiện tại nơi bóng dừng.

– Trận đấu được bắt đầu trở lại ngay sau khi bóng chạm đất.

7. Phạt những vi phạm:

Quả “thả bóng chạm đất” phải được thực hiện lại nếu:

– Có một cầu thủ chạm bóng trước khi bóng chạm đất.

– Sau khi thả bóng đã vượt ra ngoài đường giới hạn sân trước khi chạm chân một cầu thủ.

8. Trường hợp đặc biệt:

– Đội phòng ngự được hưởng quả phạt trong khu cầu môn của đội mình có thể đặt bóng tại bất kỳ điểm nào trong khu cầu môn.

– Đội tấn công được hưởng quả phạt gián tiếp trong khu cầu môn của đội phòng ngự, bóng sẽ được đặt trên đường song song với đường cầu môn nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.

– Nếu quả “thả bóng chạm đất” phải thực hiện trong khu vực cầu môn thì bóng sẽ được thả tại điểm trên đường song song với đường cầu môn và gần vị trí có bóng nhất, khi trận đấu tạm dừng.

LUẬT IX

BÓNG TRONG CUỘC VÀ BÓNG NGOÀI CUỘC

1. Bóng ngoài cuộc: (Ball out of play)

Bóng được coi là ngoài cuộc khi:

– Bóng đã vượt qua hẳn đường biên ngang, biên dọc dù ở mặt sân hay trên không.

– Trọng tài thổi còi dừng trận đấu.

2. Bóng trong cuộc: (Ball in play)

Bóng được coi là trong cuộc suốt thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc trận đấu, kể cả các trường hợp:

– Bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang cầu môn hoặc cột cờ góc.

– Bóng bật vào sân từ trọng tài hoặc trợ lý trọng tài đứng trong sân.

(còn tiếp)